Sau 12 tháng học tập và lao động vất vả, các nước Tây Phương và Đông phương lại đón năm mới với những lời chúc tụng hạnh phúc, vui vẻ và may mắn. Những quả bóng được thả trong giây đầu năm mới, pháo bông được bắn sáng rực đất trời và mọi người ôm hôn nhau ngoài đường phố hay trong nhà và cùng nâng ly chúc tụng nhau trong niềm vui mới. Tiệc tùng, thăm thú bạn bè và vui cjơi giải trí cũng diễn ra cấp tập trong thời gian này. Mọi người chuẩn bị cho điều gì đó mới mẻ hơn trong năm mới.
Từ lịch Caesar (Julian Calendar)
Nhưng ngày tết hiện nay không dùng chung cho tất cả các nước trên thế giới dù về phương diện thống kê, kinh doanh và thương mại, ngày 1.1 Dương lịch vẫn được xem là thời điểm đánh dấu một năm trôi qua và năm mới bắt đầu. Mọi giao dịch mang tính quốc tế đều theo Dương lịch cho thống nhất và tiện lợi.
Ngày đầu năm mới đã có từ lâu và biến đổi qua nhiều thiên kỷ theo lịch sử tiến hóa của loài người. Nó bắt đầu từ thời cổ đại, và tồn tại cùng với dòng chảy văn minh. Ngày và Giờ được qui định khác nhau trên từng quốc gia và từng lục địa tùy theo tiết khí, múi giờ.v.v. đồng thời cũng tùy vào chủng tộc và nền văn hóa của từng nước, từng tôn giáo.
Đế Quốc La Mã là nước đầu tiên chọn ngày 1.1 làm ngày Năm mới (New Year) trong hệ thống lịch Julian do Hoàng đế Julius Caesar đề xướng. Còn trước đó, ngày 25.3 (ngày xuân phân-vernal equinox) được chọn là ngày đầu năm Dương lịch. Ngày Năm mới 25.3 này được đa số nước theo đạo Cơ đốc ở châu Âu chấp nhận từ thời trung cổ 1.100 – 1.400 trước Công Nguyên. Ngày này không phải là thời điểm thu hoạch vụ mùa hay tiết trời đặc biệt nào mà chỉ là ngày các Nguyên lão trúng cử bắt đầu nhận nhiệm vụ mới trong Viện Nguyên lão (Thượng viện) của Đế quốc La Mã mà thôi. Như vậy, thời Đế quốc La Mã, ngày đầu năm được tính lùi lại ba tháng và ngày 25.3 đuợc xem là ngày đầu năm. Sau này mỗi Hoàng đế La Mã lên trị vì thường đặt thêm tên khác cho tháng, ví dụ tháng Chín (September) còn gọi là “Germanucus”, “Antonius” hay “Tacitus”, và tháng 11 (November) còn gọi là “Domitianus”, “Faustinus” hay “Romanus”. Thấy những bất tiện này, Hoàng đế Julius Caesar cho lập bộ Lịch mới (Julian Caesar). Lịch mới là phát minh của nhà Thiên văn người Hy Lạp Alexandria, trong đó ông tính hệ thống thời gian cho Lịch theo mặt trời. Caesar muốn thay đổi ngày đầu năm từ ngày 1.1 mà ông cho là hợp lý nhất, vì như vậy sẽ phù hợp với điểm chí (Solstices) hay điểm phân (Equinoxes) và tiết khí. Các tháng 9, 10, 11, 12 đôn lên thành 7,8,9 và 10. Để ghi ơn Julius Caesar, bộ lịch cách tân Julian được Viện Nguyên lão dành riệng tháng 7 (July, xuất xứ từ chữ Julius) cho tháng sinh nhật của ông (Quintilis). Đến đời cháu của Caesar, Hoàng đế Augustus cũng được dành ra tháng 8 “August” để nhớ tháng sinh nhật Sextilis của ông. Công lớn của Augutus là sửa sai cách tính toán của năm nhuần.
Đến lịch Gregory XII (Gregorian Claendar)
Lịch Julian được chấp nhận ở Venice (Ý) năm 1522; Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Người Cơ đốc giáo ở Nam châu Âu năm 1556; Đế quốc Phổ, Đan Mạch, Thụy Điển năm 1559; Pháp năm 1564. Đến năm 1582, lịch Julian mất chỗ đứng khi Giáo hoàng Gregory XII ngay sau ngày nhậm chức đã dùng phương pháp tính Lịch hiện đại để phân chia tháng năm. Giáo hoàng sửa đổi và ấn định ngày đầu của năm mới (New Year) là ngày 1.1 bất chấp chống đối của nhiều hiệp hội tín đồ Cơ đốc giáo. Trong lịch sửa đổi có tên “Lịch Gregorian”, 10 ngày trong tháng 10 bị bỏ đi. Như vậy, ngày 4.10.1582 nhảy sang ngày 15.10.1582 và tiếp tục. Bằng cách này, Giáo hoàng đã xóa bỏ 11 ngày nhuần dự trù cho năm 1700 để các năm đầu thế kỷ 1700,1800 và 1900 không phải là năm nhuần mà đến năm 2000 chuyển giao thiên niên kỷ mới nhuần. Các nước theo đạo Công giáo tiếp nhận ngày “New Year” trong lịch Gregorian sớm nhất. Người Tin lành (bắc châu Âu), Hà Lan năm 1583; Scotland năm 1600; sau đó đến những nước theo đạo Tin Lành và Đức Quốc chấp nhận ngày “New Year” vào năm 1700, Nga năm 1725; Anh, Anh, Mỹ, Canada năm 1752 và Thụy Điển năm 1753. Tất cả đều đồng tình với việc xóa bỏ 11 ngày trong của năm nhuần 1700.
Và lịch phương Đông
Những nước Phương Đông ảnh hưởng của nhiều nhóm tôn giáo như Hindus, đạo Lão, Phật giáo, Hồi giáo nhưng họ cũng dùng Lịch Gregorian. Nhật Bản chấp nhận ngày 1.1 “New Year” Dương lịch vào năm 1873; TQ năm 1912 dùng song hành với âm lịch. Sau đó đến những nước theo Chính thống giáo nhưng muộn hơn, vào năm 1924 và 1927; nước Nga chấp nhận lần đầu tiên năm 1918 sau hủy bỏ rồi phục hồi vào năm 1924. Hiện nay, ngày 1.1 Tết Dương lịch theo Lịch “Gregorian Calendar” được hầu hết các nước trên thế giới sử dụng, kể cả Bulgaria, Cyprus, Ai Cập, Hy Lạp, Ba Lan, Romania, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng các nhà thờ Chính thống Đông Phương ở Grudia, Jerusalem, Nga và Serbia vẫn ăn tết vào ngày 14.1 (tức ngày 1.1 của lịch Julian Calendar). Thường thì họ dùng cả 2 lịch tuỳ theo mục đíchNgười Trung Hoa tính theo hệ thống mặt trăng cho nên ngày năm mới rơi vào tháng bắt đầu có trăng, khoảng 4 hay 8 tuần trước khi mùa xuân đến. Ngày chính xác có thể vào khoảng giữa ngày 21.1 hay ngày 21.2 của lịch “Gregorian Calendar”. Lịch Trung Hoa thành lập không giống lịch Gregorian bởi vì phạm vi của mùa thay đổi. Và mỗi năm có can chi khác nhau (mậu tí chẳng hạn) tượng trưng cho 1 trong 12 con Giáp luân phiên theo qui luật Ngũ Hành với chu kỳ 60 năm. Tết Nguyên Đán Việt Nam từ xưa dựa theo Lịch Trung Hoa nên thường giống lịch TQ.
.Sau đây là ngày tết ở một số nước
- Người Tây Tạng tính theo lịch “Losar” nên ngày New Year rơi vào tháng Giêng đến tháng Ba.
- Người Iran gọi năm mới là Norouz, rơi chính xác vào đầu mùa xuân (Vernal equinox). Trong năm 2007, ngày đầu năm là 20.3.
- Người Baha'i ăn Tết Naw-rúz vào ngày xuân phân (Vernal Equinox) 21.3.
- Người Punjab, Ấn Độ ăn Tết Vaisakhi vào ngày 13.4 trùng với mùa thu hoạch lúa.
- Người Nepal ăn tết Baisakh vào mùa xuân, ngày đầu của tháng có trăng, thường là từ 12-15.4.
- Năm mới của Campiuchia, Lào và Thái Lan rơi vào ngày 13.4-15.04
- Người Bengali (Bangadesh) goị ngày đầu năm mới là Pohela Baisakh, bắt đầu từ 14.4 hoặc 15.4.
- Người Sinhale (Sri Lanka) chọn ngày đầu năm trong tháng 4.
- Người Tamil và Vishu (Ấn Độ) ăn Tết chung ngày với người Tamil Nadu và Kerala ở miền Nam, thường là giữa mùa xuân, ngày 13 hoặc 14.4.
Tóm lại, Lịch của Đế Quốc La Mã xa xưa một năm chỉ có 10 tháng, tháng bắt đầu của năm là ngày 01 tháng Ba. Đến thời Hoàng đế Julius Caesar lịch Julian Calendar chọn ngày 1.1 là ngày đầu năm. Và Giáo hoàng Gregory XII đã lập ra lịch hiện đại mà chúng ta đang dùng.
(Theo Sơn Lê Tây
| Comments |
|
Only registered users can write comments!
Powered by !JoomlaComment 3.26




